
1. Quy mô đầu tư 544.000 tỷ đồng và mục tiêu 100 triệu lượt hành khách
Việc tái cấu trúc hạ tầng đường sắt khu vực phía Nam là bài toán tối ưu hóa năng lực thông hành và giảm thiểu chi phí logistics đang ở mức cao. Cục Đường sắt Việt Nam đã đề xuất quy hoạch mạng lưới gồm 8 tuyến đường sắt và 4 ga đầu mối với tổng nhu cầu vốn ước tính 544.000 tỷ đồng. Khoản đầu tư quy mô lớn này tập trung vào mục tiêu giải tỏa các điểm nghẽn giao thông, đồng thời thiết lập hệ thống vận tải khối lượng lớn có tính liên kết vùng sâu rộng. Dựa trên tính toán kỹ thuật, hệ thống này được kỳ vọng đáp ứng lưu lượng vận tải đạt ngưỡng trên 100 triệu lượt hành khách mỗi năm vào năm 2050, đảm bảo sự phát triển hạ tầng đi trước một bước so với tốc độ đô thị hóa. Lộ trình triển khai nguồn lực tài chính được phân kỳ khoa học, tập trung vào các ưu tiên ngắn hạn nhằm sớm hình thành khung xương sống hạ tầng trước năm 2030.
2. Ưu tiên 92.600 tỷ đồng cho 3 tuyến trọng điểm đến năm 2030
Giai đoạn đến năm 2030 đóng vai trò then chốt trong việc xác lập các trục hành lang kinh tế chính thông qua việc phân bổ nguồn vốn hơn 92.600 tỷ đồng. Trong thời kỳ này, kế hoạch tập trung triển khai khởi công 3 tuyến đường sắt có mật độ dự báo cao nhất để tạo tiền đề kết nối các cực tăng trưởng. Tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu và tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ là những dự án được ưu tiên hàng đầu để định vị khả năng liên kết giữa TP. Hồ Chí Minh với các cửa ngõ kinh tế lớn như Cần Thơ và cụm cảng quốc tế Vũng Tàu. Việc tập trung nguồn lực vào các tuyến này giúp tối ưu hóa hiệu quả đầu tư công, tạo ra dòng vận tải thông suốt từ các vùng nguyên liệu và sản xuất đến hệ thống tiêu thụ và xuất khẩu. Sự hình thành của các trục chính này dẫn dắt quá trình hoàn thiện toàn bộ mạng lưới 508 km theo các tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và hiện đại.
3. Chi tiết mạng lưới 508 km và tiêu chuẩn đường đôi khổ 1.435 mm
Hệ thống đường sắt khu vực đầu mối được quy hoạch với tổng chiều dài 508 km, bao gồm 1 tuyến hiện hữu và 7 tuyến xây dựng mới nhằm tạo ra một mạng lưới vận tải liên hoàn. Các đoạn tuyến mới áp dụng tiêu chuẩn đường đôi, khổ chuẩn 1.435 mm và thực hiện điện khí hóa toàn diện, thể hiện cam kết về vận tải xanh hướng tới mục tiêu Net Zero và đảm bảo tốc độ vận hành cao. Tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu có quy mô lớn nhất với chiều dài 132 km, trong đó trục chính An Bình - Vũng Tàu dài 103,19 km, đoạn Trảng Bom - Phước Tân dài 8,4 km và hệ thống nhánh kết nối sâu vào cụm cảng Thị Vải, Cái Mép, Logistics Cái Mép Hạ dài 20,41 km. Tuyến TP. Hồ Chí Minh - Lộc Ninh đoạn An Bình - Bàu Bàng dài 52 km và tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau đoạn An Bình - Tam Hiệp dài 82 km đóng vai trò điều phối luồng hàng hóa và hành khách về phía Bắc và Tây Nam Bộ. Trục đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trong phạm vi nghiên cứu bao gồm đoạn Thủ Thiêm - Long Thành dài 35 km và đoạn Cẩm Mỹ - Trảng Bom dài 25 km, mắt xích quan trọng để hoàn thiện kết nối mạng đường sắt khu vực đầu mối. Tuyến kết nối biên giới TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài dài 61 km cùng đoạn liên kết 3,8 km tạo sự liền mạch cho hành lang vận tải quốc tế. Phục vụ hệ thống cảng biển phía Nam là tuyến Thạnh Đức - Hiệp Phước - Long An dài 54 km, phối hợp với tuyến An Bình - Sài Gòn - Tân Kiên dài 33 km vận hành lưỡng dụng để tối đa hóa hiệu suất khai thác. Tuyến hiện hữu Trảng Bom - An Bình khổ 1.000 mm với chiều dài 34 km tiếp tục được duy trì để bảo đảm tính kế thừa và kết nối hệ thống, tạo sự chuyển tiếp nhịp nhàng với hạ tầng ga đầu mối.
4. Quy hoạch 359,2 ha diện tích cho 4 ga đầu mối vận tải
Để quản trị hiệu quả các dòng lưu thông hàng hóa và hành khách, quy hoạch dành quỹ đất 359,2 ha cho 4 ga đầu mối trọng điểm gồm Trảng Bom, An Bình, Tân Kiên và Thủ Thiêm. Ga An Bình được thiết lập như một điểm nút chuyển tiếp hạ tầng (intermodal node) chiến lược, đóng vai trò kết nối kỹ thuật giữa tuyến khổ 1.000 mm hiện hữu và các tuyến khổ 1.435 mm mới, đảm bảo luồng vận tải xuyên suốt không bị đứt gãy. Sự phân hóa chức năng giữa các ga được xác định rõ rệt: ga Thủ Thiêm tập trung tối ưu hóa luồng hành khách tốc độ cao, trong khi các ga Trảng Bom và An Bình hình thành những trung tâm tiếp vận đa phương thức quy mô lớn. Việc quy hoạch diện tích lớn cho hạ tầng ga cho phép tích hợp sâu các dịch vụ logistics, giúp giải tỏa nhanh chóng hàng hóa từ các khu công nghiệp và hệ thống cảng biển trực tiếp vào mạng lưới đường sắt quốc gia. Quy mô đầu tư và thiết kế ga đồng bộ này là yếu tố cốt lõi để hoàn thiện năng lực vận tải, củng cố vị thế trung tâm kinh tế và đầu mối giao thương quốc tế của khu vực phía Nam.